Chuyển hóa tội phạm là gì? Những trường hợp chuyển hóa tội phạm?

Hiện nay, vấn đề xác định chính xác tội danh đối với các cơ quan tiến hành tố tụng tưởng chừng đơn giản, tuy nhiên, trong không ít vụ án, việc khởi tố, truy tố, xét xử đúng tội danh đang là câu chuyện khá phức tạp đối với những người tiến hành tố tụng, đặc biệt là các vụ án có dấu hiệu của chuyển hóa tội phạm. Vậy chuyển hóa tội phạm là gì? Có những trường hợp chuyển hóa tội phạm nào? Sau đây Công ty Luật Quốc tế DSP sẽ cùng bạn đọc nghiên cứu, làm rõ về vấn đề này.

1. Chuyển hóa tội phạm là gì

Chuyển hóa tội phạm là gì? Hình minh họa

1.1 Định nghĩa

– Pháp luật hiện nay chưa có định nghĩa về chuyển hóa tội phạm. Những quy định về chuyển hóa tội phạm không được quy định cụ thể trong luật, mà được Hội Đồng thẩm phán, TANDTC, VKSNDTC và các cơ quan liên quan đưa ra trong quá trình xét xử tại Thông tư liên tịch số 02 ngày 25/12/2001Nghị quyết số 01/HDTP-NQ năm 1989.

Khi một người thực hiện hành vi cấu thành tội phạm cụ thể được Bộ Luật hình sự quy định thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đó. Tuy nhiên, diễn biến hành vi phạm tội không phải lúc nào cũng đồng nhất với hành vi Luật định, trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, có những hành vi đáp ứng cấu thành tội phạm của nhiều tội khác nhau. Trong đó, hành vi sau có mức độ nguy hiểm cao hơn so với hành vi ban đầu. Do đó, nếu xác định tội danh dựa trên hành vi ban đầu sẽ khiến cho tội phạm và hình phạt không tương thích với hành vi phạm tội. Chính vì vậy, hình thành các quy định về chuyển hóa tội phạm.

– Trong vấn đề chuyển hóa tội phạm thì có một vấn đề liên quan đó là khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội sử dụng vũ lực đối với nạn nhân để chiếm đoạt bằng được tài sản tuy nhiên cũng có trường hợp mục đích của việc sử dụng vũ lực của người phạm tội không phải là để chiếm đoạt cho bằng được tài sản mà chỉ là để tẩu thoát khỏi sự truy đuổi hô hoán của chủ tài sản hoặc người xung quanh, như quy định tại 6.1 Thông tư liên tịch số 02 ngày 25/12/2001.

Ví dụ: A lén lút vào nhà B nhằm mục đích trộm xe máy, sau khi dắt xe ra tới cổng thì bị B phát hiện nên la hét và giữ chặt tay A lại. Vì muốn tẩu thoát nên A đã đạp B ngã, sau đó bỏ xe lại để chạy thoát thân. Hành vi dùng vũ lực trên của A không nhằm chiếm đoạt tài sản mà chỉ nhằm mục đích tẩu thoát nên không có dấu hiệu của chuyển hóa tội phạm.

1.2 Dấu hiệu của chuyển hóa tội phạm

Việc chuyển hóa tội phạm thường diễn ra đối với tội xâm phạm quyền sở hữu và thường có các dấu hiệu sau đây:

–  Bị phát hiện tại thời điểm thực hiện hành chiếm đoạt tài sản.

–  Người phạm tội thường dùng vũ lực tấn công hoặc đe dọa dùng vũ lực với nạn nhân hoặc có thể cả người khác.

–  Nhằm lấy, giữ, chiếm đoạt bằng được tài sản.

2. Một số trường hợp chuyển hóa tội phạm

Một số trường hợp chuyển hóa tội phạm – Hình minh họa

2.1.  “Tội trộm cắp tài sản” chuyển hóa thành “Tội cướp tài sản”

Căn cứ tại 6.2 Thông tư liên tịch số 02 ngày 25/12/2001 có quy định: Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là “hành hung để tẩu thoát” mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản.

Như vậy, việc người đang thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản nhưng chưa lấy được tài sản, chưa tẩu thoát thì bị phát hiện hoặc chưa bị phát hiện đã có hành vi dùng vũ lực đối với nạn nhân nhằm lấy cho bằng được tài sản và tẩu thoát, thì trường hợp này từ Tội trộm tài sản đã chuyển hóa thành Tội cướp tài sản.

Ví dụ: A lén lút vào nhà B để trộm tài sản, lúc lấy được chiếc xe định tẩu thoát thì B phát hiện, B hô hoán và giằng co giành lại tài sản, thì A đã đánh B ngất và lên xe lấy được để tẩu thoát.

2.2. “Tội trộm cắp tài sản” chuyển hóa thành “Tội cưỡng đoạt tài sản”

Trường hợp này có thể hiểu là người có hành vi phạm tội trộm cắp tài sản nhưng chưa lấy được tài sản thì có hành vi uy hiếp về tinh thần, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm để nạn nhân giao tài sản cho mình.

Ví dụ: A lén lút vào nhà B để trộm tài sản, sau khi lấy được 1 máy tính và 1 chiếc điện thoại thì bị B phát hiện, A có hành vi dùng dao đe dọa để B giao tiền cho A. Sau đó, A tẩu thoát cũng với số tài sản vừa lấy được. Hành vi trên của A đã chuyển hóa từ Trộm cắp tài sản sang Cưỡng đoạt tài sản.

2.3. “Tội trộm cắp tài sản” chuyển hóa thành “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Người phạm tội đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, sau đó có hành vi gian dối đối với chủ tài sản để chiếm đoạt tài sản đó.

Ví dụ: Lợi dụng lúc A vắng nhà, B vào nhà A để lấy trộm tài sản. Khi B lấy được chiếc xe định tẩu thoát thì gặp mẹ A đi chợ về, lúc đó B nói dối rằng A đã cho mình mượn xe để đi công việc. Sau đó, B mang chiếc xe đó ra tiệm cầm đồ để lấy tiền tiêu xài cá nhân.

2.4. “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chuyển hóa thành “Tội cướp tài sản”

Theo Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ ngày 19/4/1989 hướng dẫn Bộ luật Hình sự 1985 tại Mục VII – Về việc chuyển hóa từ một số hình thức “Chiếm đoạt tài sản” thành “Cướp tài sản” từ thực tiễn xét xử cho thấy:

– Nếu là trường hợp do chưa chiếm đoạt được tài sản mà kẻ phạm tội dùng vũ lực hay đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực để chiếm đoạt tài sản cho bằng được thì cần định tội là cướp tài sản…

– Nếu là trường hợp kẻ phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản rồi, nhưng chủ tài sản hoặc người khác đã lấy lại được tài sản đó hoặc đang giành giật tài sản còn ở trong tay kẻ phạm tội, mà kẻ phạm tội dùng vũ lực, hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực để chiếm đoạt tài sản cho bằng được, thì cần định tội là “Cướp tài sản”…

Như vậy, đối với trường hợp này người phạm tội ban đầu dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản, sau đó có hành vi dùng vũ lực đối với nạn nhân để chiếm đoạt tài sản đó.

Ví dụ: A là đối tượng nghề nghiệp không ổn định, thường xuyên sử dụng mạng xã hội Zalo kết bạn, làm quen với nhiều người rồi tìm cách tiếp cận, gặp mặt rồi lợi dụng sự mất cảnh giác của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. A đã kết bạn và làm quen với B, khi cả hai cùng nhau đi chơi, lợi dụng vào sự tin tưởng nên A mượn xe B rồi có ý định mang ra tiệm cầm lấy tiền tiêu xài. Khi đang mang xe ra tiệm cầm đồ thì bị B phát hiện và giật lại xe, lúc này A đã đánh, đạp mạnh khiến B ngã xuống đường rồi lên xe tẩu thoát. Hành vi này của A đã chuyển hóa từ Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thành Tội cướp tài sản

2.5. “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chuyển hóa thành “ Tội cưỡng đoạt tài sản”

Ban đầu, người phạm tội có hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản, sau đó có hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản đó.

Ví dụ: Vì thiếu tiền tiêu xài nên A có ý định chiếm đoạt bình cổ trị giá 500.000.000 triệu của B. Lợi dụng sự quen biết tin tưởng A đã nói dối bình cổ của B là giả và bảo sẽ mang đi giám định giúp và sau đó mang đi bán lấy tiền. Nhưng chưa bán được thì hành vi của A bị B phát hiện và B đến giành lại chiếc bình cổ. Lúc đó, A đã đe dọa nếu B không đưa chiếc bình đó cho A thì sẽ báo công an việc B đã nhận hối lộ. Vì lo sợ nên B đã giao chiếc bình cổ đó cho A. Hành vi trên của A đã chuyển hóa từ Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thành Tội cưỡng đoạt tài sản.

2.6. “Tội cướp giật tài sản” sang “Tội cướp tài sản”

-Trường hợp thứ nhất, do chưa chiếm đoạt được tài sản mà người phạm tội cướp giật tài sản dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt tài sản bằng được;

-Trường hợp thứ hai, người phạm tội cướp giật tài sản đã chiếm đoạt được tài sản rồi, nhưng chủ tài sản hoặc người khác đã lấy lại được tài sản hoặc đang giành giật tài sản trong tay người phạm tội mà người phạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản cho bằng được.

Ví dụ: Lợi dụng ở nơi vắng người, B chạy đến giật túi xách A khi đang đi bộ trên đường rồi bỏ chạy. Tuy nhiên, sau đó A đã đuổi theo và giành lại tài sản thì B lập tức có hành vi dùng vũ lực “đạp ngã” A xuống đường và giật tài sản rồi tẩu thoát. Như vậy, ở đây đã có sự chuyển hóa tội phạm từ Tội cướp giật tài sản sang Tội cướp tài sản. 

Thực tế, đối với các vụ án có tính chất chuyển hóa tội phạm thường gây rất nhiều khó khăn cho cơ quan điều tra trong việc định tội danh. Việc phát sinh sai lầm trong việc xác định tội danh dẫn đến việc xét xử không đúng người đúng tội. Vì vậy cần có sự thống nhất trong việc định tội danh đối các vụ án có tính chất chuyển hóa tội phạm.

3. Cơ sở pháp lý

Thông tư liên tịch số 02 ngày 25/12/2001

Nghị quyết số 01/HDTP-NQ năm 1989 hướng dẫn Bộ luật Hình sự 1985 .

Trên đây là bài viết của Công ty Luật Quốc tế DSP để giải đáp cho câu hỏi Rải đinh trên đường thì có bị xử lý hình sự không? Để tìm hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật về vấn đề trên, Qúy khách vui lòng liên hệ tới Công ty Luật Quốc tế DSP. Với đội ngũ luật sư và nhân viên trình độ cao, chuyên nghiệp và nhiệt tình chúng tôi sẽ mang đến nhiều hơn những gì khách hàng mong đợi.

Mọi thông tin chi tiết, Quý khách vui lòng liên hệ với Công ty Luật Quốc tế DSP chúng tôi theo:

Điện thoại: 0236 222 55 88

Hotline: 089 661 6767 hoặc 089 661 7728

Email: info@dsplawfirm.vn

Fanpage: facebook.com/dsplawfirm.vn

Miền Trung: 87 Phạm Tứ, Quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam 

Miền Nam: Tầng 2, Toà nhà GP Bank, 83 Đinh Tiên Hoàng, Quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam 

Hoa Kỳ: 9869 Coronado Lake Drive, Boynton Beach City, Florida 33437, USA

Rất mong được hợp tác cùng Quý Khách !

 

Bài viết liên quan

089 661 6767