Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

Sinh lão bệnh tử có thể nói là quy luật tự nhiên, tất yếu mà đời người ai cũng phải trải qua và không thể thay đổi được. Cùng với đó, việc giải quyết các vấn đề về nhân thân và tài sản khi một người chết rất quan trọng. Hiện nay, vấn đề về giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết ngày càng được nhiều người quan tâm. Thông qua bài viết dưới đây, Công ty Luật Quốc tế DSP sẽ gửi đến bạn đọc những vấn đề cơ bản liên quan đến giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết theo quy định của pháp luật hiện hành.

KHÁI QUÁT CHUNG

Một người thế nào được xem là chết?

Điều 33 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định như sau:

Điều 33. Thời hạn và trách nhiệm đăng ký khai tử

1. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết thì vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thích thì đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử.

2. Công chức tư pháp – hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc khai tử cho người chết; trường hợp không xác định được người có trách nhiệm đi khai tử thì công chức tư pháp – hộ tịch thực hiện đăng ký khai tử”.

Thông thường, khi một người chết sinh học, tức người đó đã chấm dứt các hoạt động hô hấp, trao đổi chất, việc phân chia tế bào chấm dứt vĩnh viễn trên cơ thể người và đã được xác nhận theo giám định của cơ quan y tế, thể hiện trên giấy báo tử thì người thân của của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết, trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử. Thủ tục đăng ký khai tử được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Hộ tich năm 2014.

Một người thế nào được xem là bị Tòa án tuyên bố là đã chết?

Khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:

“1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:

a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này”.

Từ quy định của pháp luật có thể thấy, một người để được xem là bị Tòa án tuyên bố đã chết thì cần đáp ứng các điều kiện sau:

– Có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan. Đó có thể là vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết.

– Thuộc một trong các trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015.

– Có quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết. Việc Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết được thực hiện theo thủ tục giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thế nào được xem là vợ chồng hợp pháp?

Theo đó, vợ chồng theo quy định của pháp luật là nam, nữ có quan hệ hôn nhân với nhau thông qua việc đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền.

GIẢI QUYẾT TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG TRƯỜNG HỢP MỘT BÊN CHẾT HOẶC BỊ TÒA ÁN TUYÊN BỐ LÀ ĐÃ CHẾT

Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết ( Hình minh họa)

Việc giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được quy định tại Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể như sau:

Điều 66. Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác”.

Từ quy định của pháp luật ta có thể thấy, khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì người còn lại có quyền quản lý di sản của người chết và có quyền yêu cầu hạn chế phân chia di sản trong một số trường hợp, cụ thể như sau:

Thứ nhất, quyền quản lý di sản:

Theo đó, khi vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà những người thừa kế chưa yêu cầu chia di sản, chưa xác định được người thừa kế hoặc có căn cứ tạm hoãn chia di sản thì người vợ hoặc chồng còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

Người vợ hoặc chồng quản lý di sản có nghĩa vụ: bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác; thông báo về di sản cho những người thừa kế; bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ mà gây ra thiệt hại; giao lại tài sản theo yêu cầu của người thừa kế. Bên cạnh đó, người quản lý di sản có quyền được sử dụng di sản nếu được những người thừa kế đồng ý và được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế.

Thứ hai, quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản:

Về nguyên tắc, thời điểm người có tài sản chết là thời điểm mở thừa kế. Kể từ thời điểm này, những người thừa kế có quyền yêu cầu chia di sản. Tuy nhiên, để đảm bảo ổn định cuộc sống của bên vợ hoặc chồng còn sống, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.

Theo đó, Điều 661 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hạn chế phân chia di sản như sau:

Điều 661. Hạn chế phân chia di sản

Trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia.

Trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn này không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm”.

Có thể thấy, việc pháp luật quy định về quyền quản lý di sản cũng như quyền yêu cầu hạn chế phân chia di sản khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, một mặt nhằm khẳng định quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ tài sản, mặt khác là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người còn lại.

Ngoài ra, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định về việc phân chia di sản, cụ thể khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

CƠ SỞ PHÁP LÝ

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Luật Hộ tịch năm 2014.

Bộ luật Dân sự năm 2015.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn qua Hotline: 089.661.6767 / 089.661.7728 hoặc gửi qua Email: info@dsplawfirm.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ tốt nhất từ Công ty Luật Quốc tế DSP.

 

Bài viết liên quan

089 661 6767