Hiếp dâm là gì? Chủ thể của tội hiếp dâm có thể là nữ không?

Tội phạm hiếp dâm là loại tội phạm xâm phạm đến quyền tự do tình dục, quyền được tôn trọng và bảo vệ về danh dự, nhân phẩm của con người. Trong thời gian gần đây, tội phạm hiếp dâm ngày càng diễn biến phức tạp, hoạt động với tính chất hết sức táo bạo, sẵn sàng dùng hung khí, thủ đoạn nguy hiểm nhằm làm tê liệt sự chống trả cả nạn nhân để thực hiện tội phạm đến cùng. Điều này đã gây ra nhiều hoang mang trong dư luận, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Trong bài viết này, Công ty Luật Quốc tế DSP sẽ gửi đến bạn đọc những vấn đề cơ bản liên quan đến tội hiếp dâm theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành.

1. Hiếp dâm là gì?

Hiếp dâm là gì? (Hình minh họa)

Hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân.

Tội phạm hiếp dâm xâm phạm trực tiếp đến quyền tự do tình dục của nạn nhân. Người phạm tội thực hiện hành vi như dùng vũ lực đe dọa, sử dụng vũ lực, khống chế, cưỡng ép nạn nhân hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân như bị trói, bị khuyết tật, bị ngất,… để thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của nạn nhân. Tội phạm này xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người khác gây tổn hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của nạn nhân, đồng thời gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội.

2. Dấu hiệu pháp lý của Tội hiếp dâm

Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau:

Điều 141. Tội hiếp dâm

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

2.1. Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ về danh dự, nhân phẩm của con người. Đối tượng tác động của tội phạm là người đủ 16 tuổi trở lên.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân.

Theo đó, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi. Điều 3 của Nghị quyết đã hướng dẫn về hành vi khách quan của tội hiếp dâm như sau:

– Dùng vũ lực: Là dùng sức mạnh về thể chất tác động lên thân thể của nạn nhân như vật ngã, đè, giữ tay, chân, bịt miệng, bóp cổ, đấm đá, trói, giằng xé quần áo,… của nạn nhân nhằm làm mất hoặc hạn chế khả năng chống trả, kháng cự của nạn nhân.

– Đe dọa dùng vũ lực: Là dùng lời nói, cử chỉ, động tác nhưng chưa tác động vào người nạn nhân, nhưng làm cho nạn nhân hiểu rằng nếu kẻ tấn công không giao cấu được thì sẽ sử dụng vũ lực ngay tức khắc. Ví dụ như dọa giết, dọa gây thương tích,…

– Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân là việc người phạm tội lợi dụng tình trạng người bị hại lâm vào một trong những hoàn cảnh sau đây để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác:

+ Người bị hại không thể chống cự được. Ví dụ: Người bị hại bị tai nạn, bị ngất, bị trói , bị khuyết tật… dẫn đến không thể chống cự được.

+ Người bị hại bị hạn chế hoặc bị mất khả năng nhận thức , khả năng điều khiển hành vi. Ví dụ : Người bị hại bị say rượu, bia, thuốc ngủ, thuốc gây mê, ma túy, thuốc kích thích , các chất kích thích khác, bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh khác… dẫn đến hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi.

– Dùng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân là dùng thủ đoạn không phải dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân, giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân. Thủ đoạn khác bao gồm các thủ đoạn như đầu độc nạn nhân; cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc gây mê, uống rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác; hứa hẹn cho tốt nghiệp, cho đi học, đi thi đấu, đi biểu diễn ở nước ngoài để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

– Giao cấu là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam (dương vật) vào bộ phận sinh dục nữ (âm hộ, âm đạo) với bất kỳ mức độ xâm nhập nào.

– Hành vi quan hệ tình dục khác là hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ngón tay, ngón chân, lưỡi…) hoặc dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào bao gồm một trong các hành vi sau đây:

+ Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác;

+ Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi…), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác.

Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân là giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác mà người bị hại không đồng ý, phó mặc hoặc không có khả năng biểu lộ ý chí của mình đối với hành vi quan hệ tình dục cố ý của người phạm tội. Việc xác định trái ý muốn cần được xem xét trên nhiều khía cạnh như: mối quan hệ giữa hai người, thủ đoạn thực hiện, hoàn cảnh xảy ra sự việc, thái độ của nạn nhân trước và sau khi bị người phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội có hành vi nhằm giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân, không phân biệt việc giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác đã kết thúc hay chưa. Trường hợp người phạm tội mới thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác mà chưa thực hiện hành vi giao cấu hay hành vi quan hệ tình dục khác thì tội phạm mới chỉ dừng lại ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Tuy nhiên, dù là phạm tội chưa đạt thì người thực hiện hành vi hiếp dâm vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. 

2.3. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện hành vi đó.

2.4. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người đủ 16 tuổi trở lên đối với tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên đối với tội phạm được quy định tại các khoản 2, 3, 4 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Hình phạt đối với Tội hiếp dâm theo quy định của Bộ luật Hình sự

Hình phạt đối với Tội hiếp dâm (Hình minh họa)

Khung hình phạt tại khoản 1:

Người phạm tội bị phạt tù từ 02 đến 07 năm.

Khung hình phạt tại khoản 2:

Người phạm tội bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm thuộc các trường hợp sau:

– Có tổ chức;

– Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

– Nhiều người hiếp một người;

– Phạm tội 02 lần trở lên;

– Đối với 02 người trở lên;

– Có tính chất loạn luân;

– Làm nạn nhân có thai;

– Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

– Tái phạm nguy hiểm.

Khung hình phạt tại khoản 3

Người phạm tội bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân nếu thuộc các trường hợp sau:

– Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

– Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

– Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

Khung hình phạt tại khoản 4

Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

Hình phạt bổ sung tại khoản 5

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Chủ thể của Tội hiếp dâm có thể là nữ không?

Quy định pháp luật đề cập đến chủ thể của Tội hiếp dâm là “người nào”, tức là không giới hạn là nam giới hay nữ giới. Trường hợp nữ giới dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nam giới để thực hiện hành vi giao cấu hoặc trái với ý muốn của họ. Trên thực tế, với đặc điểm về sức khỏe, thể lực, phụ nữ thường rất khó có thể dùng “vũ lực, đe dọa dùng vũ lực” để thực hiện hành vi giao cấu với nạn nhân là nam giới. Tuy nhiên có thể bằng hành vi dùng “thủ đoạn khác” để giao cấu hoặc quan hệ tình dục trái với ý muốn của nạn nhân, trong trường hợp này, nữ giới vẫn có thể phải chịu trách nhiệm về tội hiếp dâm. Ví dụ như lấy điểm yếu của nạn nhân ra uy hiếp, cho nạn nhân uống thuốc kích dục,…

Hơn nữa, nếu như trước đây quan niệm bản chất của hành vi giao cấu chỉ có nam giới mới thực hiện được thì nay với hành vi khách quan là hành vi quan hệ tình dục khác, nữ giới vẫn có thề thực hiện được. Do đó trong trường hợp này thì hành vi của nữ giới bị coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, chủ thể là nữ giới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trong trường hợp đồng phạm. Dù không phải là người thực hành thì nữ giới cũng có thể bị coi là phạm tội nếu có hành vi cố ý cùng thực hiện tội hiếp dâm với vai trò là người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức.

5. Cơ sở pháp lý

– Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

– Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn qua Hotline: 089.661.6767 / 089.661.7728 hoặc gửi qua Email: info@dsplawfirm.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ tốt nhất từ Công ty Luật Quốc tế DSP.

Bài viết liên quan

089 661 6767