Khởi kiện khi cổ đông không góp đủ số vốn đã cam kết

Câu hỏi:

Thưa luật sư, Tôi có thắc mắc trong vấn đề sau rất mong nhận được sự tư vấn của luật sư! Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trước thành lập Công ty cổ phần Z, hai ông A và B đã ký hợp đồng thỏa thuận góp vốn. Theo hợp đồng, ông A góp 10 tỷ, ông B góp 20 tỷ. Sau khi thành lập công ty Z, ông A chỉ góp 5 tỷ còn lại 5 tỷ từ chối không góp nữa. Hỏi ông B có quyền khởi kiện ông A yêu cầu tiếp tục góp vốn không hay chỉ có công ty Z mới có quyền khởi kiện?

Tư vấn pháp luật về Doanh nghiệp, gọi 089 661 7728

Trả lời tư vấn: 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Quốc tế DSP. Trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 113 của Luật Doanh nghiệp năm 2020, thì: “Cổ đông chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã đăng ký mua có quyền biểu quyết, nhận lợi tức và các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán; không được chuyển nhượng quyền mua số cổ phần chưa thanh toán cho người khác;” 

Trong trường hợp, ông A đăng ký góp vốn 10 tỷ, nhưng trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, nếu ông A chỉ góp vào công ty 5 tỷ, thì số vốn 5 tỷ ông A góp thiếu sẽ được xử lý theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 113 của Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Cổ phần chưa thanh toán được coi là cổ phần chưa bán và Hội đồng quản trị được quyền bán”. 

Trong trường hợp Hội đồng quản trị không bán được trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua, thì xử lý theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 113 của Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua theo quy định tại khoản 1 Điều này, công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng mệnh giá số cổ phần đã được thanh toán đủ, trừ trường hợp số cổ phần chưa thanh toán đã được bán hết trong thời hạn này; đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập”. 

Đối với trách nhiệm có liên quan đến việc này, sẽ được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 113 của Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Cố đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn trước ngày công ty đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều này. Thành viên Hội đồng quản trị, người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới về các thiệt hại phát sinh do không thực hiện hoặc không thực hiện đúng quy định tại khoản 1 và điểm d khoản 3 Điều này”.

Điều này có nghĩa là, ông A chỉ chịu trách nhiệm đối với các thiệt hại phát sinh trong thời hạn 120 ngày (90+30) kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Trách nhiệm đối với các thiệt hại phát sinh sau thời hạn đó sẽ thuộc trách nhiệm của Thành viên Hội đồng quản trị, người đại diện theo pháp luật nếu không thực hiện hoặc không thực hiện đúng quy định tại khoản 1 và điểm d khoản 3 Điều 113 của Luật Doanh nghiệp. 

Từ những sự phân tích ở trên, thì mặc dù trước khi thành lập công ty ông A và ông B có thỏa thuận về việc góp vốn, tuy nhiên mục đích của giao dịch dân sự này là một phần, là tiền đề của việc thành lập doanh nghiệp, nên khi xảy ra tranh chấp, sẽ được giải quyết theo những quy định của Luật Doanh nghiệp nêu trên. 

Vì vậy, về người có quyền khởi kiện trong trường hợp này sẽ là công ty, là chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm (nếu có thiệt hại), tuy nhiên để xác định ai là người gây thiệt hại, là người bị kiện thì căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 113 của Luật Doanh nghiệp, ông A chỉ chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại phát sinh trong thời hạn 120 ngày (90+30) kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. 

Trên đây là phần tư vấn của Công ty Luật Quốc tế DSP. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn qua Hotline: 089.661.6767 / 089 661 7728 hoặc gửi qua Email: info@dsplawfirm.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ tốt nhất từ Công ty Luật Quốc tế DSP.

Mọi thông tin chi tiết, Quý khách vui lòng liên hệ với Công ty Luật Quốc tế DSP chúng tôi theo:

Điện thoại: 0236 222 55 88

Hotline: 089 661 6767 hoặc 089 661 7728

Email: info@dsplawfirm.vn

Fanpage: facebook.com/dsplawfirm.vn

Miền Trung: 87 Phạm Tứ, Quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam 

Miền Nam: Tầng 2, Tòa nhà GP Bank, 83 Đinh Tiên Hoàng, Quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam 

Hoa Kỳ: 9869 Coronado Lake Drive, Boynton Beach City, Florida 33437, USA

Bài viết liên quan

089 661 6767