Câu hỏi:
Tôi có trường hợp như sau muốn nhờ luật sư tư vấn ạ!
Ngày 08/01/2018, tại công ty C Việt Nam (100% vốn nước ngoài, trụ sở tại quận 1, Tp. HCM), giám đốc công ty và ông M (quốc tịch Việt Nam) ký HĐLĐ không xác định thời hạn; Chức danh: Trưởng đại diện Văn phòng Đà Nẵng; mức lương 5.000 USD bao gồm lương cơ bản, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp (ông M tự lo việc đóng BHXH, BHYT, BHTN). Ông M có trách nhiệm điều hành hoạt động kinh doanh của công ty tại khu vực miền Trung. Năm 2021, do tình hình dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp, công ty C Việt Nam quyết định chấm dứt hoạt động của Văn phòng đại diện tại Đà Nẵng. Vì vậy, công ty có nhu cầu chấm dứt HĐLĐ với ông M và 10 nhân viên của văn phòng đại diện. Ông M đã không hợp tác trong việc tiến hành các thủ tục để chấm dứt hoạt động của văn phòng đại diện. Nhận xét về HĐLĐ của ông M và công ty C Việt Nam?

Trả lời tư vấn:
Chào Anh/Chị!
Vấn đề của Anh/Chị hỏi tôi tư vấn như sau:
Thứ nhất, về Hợp Đồng lao động được ký kết giữa ông M và Công ty C Việt Nam. Để đánh giá Hợp Đồng này thì cần xét trên 2 phương diện là nội dung và hình thức của hợp đồng. Về nội dung, hợp đồng lao động phải đảm bảo những nội dung chủ yếu theo quy định tại Điều 23 Bộ luật Lao động năm 2012 và những nội dung này không được trái với quy định của pháp luật. Về hình thức, Điều 16 Bộ Luật lao động năm 2012 quy định hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản. Hợp đồng lao động có thể bị vô hiệu toàn bộ hoặc một phần nếu thuộc một trong các trường hợp pháp luật quy định (xem thêm tại Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2012).
Theo đó, Hợp Đồng lao động được ký kết giữa ông M và Công ty C Việt Nam là sự thỏa thuận giữa hai bên, trong đó Công ty C Việt Nam là người sử dụng lao động, còn ông M là người lao động. Những nội dung thỏa thuận trong Hợp Đồng này, về thời hạn hợp đồng, về công việc, về mức lương, về chế độ bảo hiểm,… là phù hợp với các quy định của pháp luật. Nếu Hợp Đồng lao động này không thuộc một trong các trường hợp bị vô hiệu thì kể từ ngày Hợp Đồng có hiệu lực pháp luật sẽ làm phát sinh quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên.
Thứ hai, về việc Công ty C Việt Nam có nhu cầu chấm dứt Hợp Đồng lao động với ông M và 10 nhân viên của văn phòng đại diện. Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 thì Công ty C Việt Nam hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 36 và có nghĩa vụ phải báo cho người lao động về việc này trước một khoản thời gian theo quy định tại khoản 2 Điều 36. Theo đó, Hợp Đồng lao động được ký kết giữa ông M và Công ty C Việt Nam là hợp đồng lao động không xác định thời hạn nên Công ty C phải báo cho ông M biết trước về việc Công ty sẽ chấm dứt hợp đồng lao động ít nhất 45 ngày.
Ngoài ra, Công ty C cần phải đảm bảo việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của mình với người lao động phải thuộc một trong các trường hợp tại khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2019. Theo đó, trường hợp Công ty C đưa ra lý do là tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp nên phải chấm dứt Văn phòng đại diện tại Đà Nẵng thì phải thể hiện những ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 đối với Công ty C và những biện pháp mà Công ty đã thực hiện để khắc phục khó khăn của mình Công ty nhưng vẫn không khắc phục được, buộc phải thu hẹp, giảm chỗ làm việc.
Thứ ba, về trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động. Theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2019 thì trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động; cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu.
Thứ tư, những trường hợp Công ty C không được chấm dứt hợp đồng lao động với ông M. Theo đó, nếu rơi vào một trong những trường hợp quy định tại Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2019 thì Công ty C không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông M.
Trên đây là ý kiến tư vấn của tôi, nếu bạn còn thắc mắc hoặc cần sự hỗ trợ pháp lý nào khác, bạn vui lòng liên hệ theo thông tin dưới đây để được tư vấn:
Luật sư Trương Công Sơn – Điện thoại: 089 661 6767
Công ty Luật Quốc tế DSP – Địa chỉ: Số 87 Phạm Tứ, Quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng
Thân chúc bạn nhiều sức khỏe và thành công!
