Người lao động có bị cắt giảm tiền lương khi công ty gặp khó khăn không?

Trong tình hình dịch bệnh covid vẫn đang diễn ra hết sức phức tạp như hiện nay, việc giảm sút kinh tế là điều không thể tránh khỏi. Cũng chính vì điều này, nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng để đề ra phương hướng cắt giảm tiền lương của người lao động nhằm giảm bớt gánh nặng về mặt kinh tế cho doanh nghiệp mình. Vậy liệu rằng khi doanh nghiệp gặp khó khăn, người lao động có bị cắt giảm tiền lương hay không? Và trong những trường hợp nào tiền lương của người lao động mới bị cắt giảm khi doanh nghiệp gặp khó khăn? Để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này, Công ty Luật Quốc tế DSP kính mời bạn đọc cùng tham khảo bài viết dưới đây:

1. Thế nào là cắt giảm tiền lương?

Thế nào là cắt giảm tiền lương – Hình minh họa

Khoản 1 Điều 90 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về tiền lương như sau:

Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.

Vậy theo đó, “cắt giảm tiền lương” sẽ được hiểu là việc người sử dụng lao động sẽ cắt giảm đi một phần tiền lương của người lao động so với khoản tiền lương đã thỏa thuận trước đó trong hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động và người lao động.

Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp khi người sử dụng lao động viện dẫn lý do doanh nghiệp gặp khó khăn về kinh tế thì đều được quyền cắt giảm tiền lương của người lao động. Xét thấy người lao động là bên yếu thế trong các quan hệ lao động, vậy nên pháp luật về lao động nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích của người lao động cũng đã đặt ra các quy định cụ thể về những trường hợp người sử dụng lao động có thể cắt giảm tiền lương của người lao động.

2. Các trường hợp người sử dụng lao động được quyền cắt giảm tiền lương của người lao động

Theo quy định của pháp luật về lao động hiện hành, không có quy định nào cho phép việc người sử dụng lao động được tự ý cắt giảm tiền lương của người lao động. Việc cắt giảm tiền lương của người lao động chỉ được phép diễn ra khi thuộc một trong các trường hợp sau:

2.1. Thỏa thuận sửa đổi nội dung tiền lương trong hợp đồng lao động

Theo quy định tại Điều 33 Bộ luật lao động năm 2019 về Sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động có nêu:

Điều 33. Sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động

1. Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất 03 ngày làm việc về nội dung cần sửa đổi, bổ sung.

2. Trường hợp hai bên thỏa thuận được thì việc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động được tiến hành bằng việc ký kết phụ lục hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới.

3. Trường hợp hai bên không thỏa thuận được việc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết.

Theo đó, khi người sử dụng lao động có ý muốn cắt giảm tiền lương của người lao động thì phải tiến hành báo trước cho người lao động trong thời hạn ít nhất 03 ngày. Nếu người lao động đồng ý thỏa thuận thì các bên có thể tiến hành điều chỉnh giảm tiền lương của người lao động thông qua việc ký kết phụ lục hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động mới. Còn trong trường hợp người lao động không đồng ý với việc cắt giảm tiền lương của công ty thì đương nhiên công ty sẽ không được tự ý cắt giảm tiền lương của người lao động.

2.2. Cắt giảm tiền lương khi người sử dụng lao động chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động

Căn cứ quy định tại Điều 29 Bộ luật lao động năm 2019 về việc Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động có nêu:

Điều 29. Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động

1. Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh thì người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm; trường hợp chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm thì chỉ được thực hiện khi người lao động đồng ý bằng văn bản.

Người sử dụng lao động quy định cụ thể trong nội quy lao động những trường hợp do nhu cầu sản xuất, kinh doanh mà người sử dụng lao động được tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động.

2. Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khỏe, giới tính của người lao động.

3. Người lao động chuyển sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động được trả lương theo công việc mới. Nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương của công việc cũ thì được giữ nguyên tiền lương của công việc cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% tiền lương của công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu.

4. Người lao động không đồng ý tạm thời làm công việc khác so với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm mà phải ngừng việc thì người sử dụng lao động phải trả lương ngừng việc theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật này.

Trong trường hợp này, khi người sử dụng lao động tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động thì có thể tiền lương của người lao động cũng sẽ thay đổi theo công việc mới, cụ thể:

– Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày người lao động bị chuyển đổi công việc, nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương của công việc cũ thì người lao động vẫn được hưởng mức lương của công việc cũ. Sau thời hạn này, người lao động sẽ phải hưởng mức lương của công việc mới. Tuy nhiên, tiền lương của công việc mới mà người lao động sẽ phải nhận chỉ được phép giảm từ 1% đến tối đa 15% so với tiền lương của công việc cũ và không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng.

– Cũng lưu ý rằng, pháp luật chỉ cho phép việc người sử dụng lao động tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động trong thời hạn 60 ngày làm việc cộng dồn trong 1 năm; Còn nếu quá thời hạn này thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người lao động, người sử dụng lao động mới được phép chuyển đổi công việc cho người lao động.

Trên đây là hai trường hợp người sử dụng lao động được phép cắt giảm tiền lương của người lao động. Ngoài những trường hợp này, nếu người sử dụng lao động tự ý cắt giảm tiền lương của người lao động thì sẽ bị coi là hành vi vi phạm pháp luật.

Các trường hợp người sử dụng lao động được quyền cứt giảm tiền lương – Hình minh họa 

3. Mức xử phạt khi người sử dụng lao động có hành vi không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động

Căn cứ theo Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP Quy định về việc xử phạt đối với người sử dụng lao động có hành vi không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, cụ thể:

– Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

– Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

– Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

– Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

– Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

Như vậy, dù trong hoàn cảnh nào, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, pháp luật cũng chỉ cho phép người sử dụng lao động được cắt giảm tiền lương của người lao động khi đáp ứng được các điều kiện trên. Việc doanh nghiệp tự ý cắt giảm tiền lương khi không đáp ứng được các điều kiện trên sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật.

4. Căn cứ pháp lý

– Bộ luật lao động 2019.

– Nghị định số 28/2020/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Trên đây là bài viết của Công ty Luật Quốc tế DSPNếu còn vấn đề nào thắc mắc, Quý khách hàng vui lòng liên hệ tới Công ty Luật Quốc tế DSP để nhận được sự tư vấn và hỗ trợ kịp thời.

Mọi thông tin chi tiết, Quý khách vui lòng liên hệ với Công ty Luật Quốc tế DSP chúng tôi theo:

Điện thoại: 0236 222 55 88

Hotline: 089 661 6767 hoặc 089 661 7728

Email: info@dsplawfirm.vn

Fanpage: facebook.com/dsplawfirm.vn

Miền Trung: 87 Phạm Tứ, Quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam

Miền Nam: Tầng 2, Toà nhà GP Bank, 83 Đinh Tiên Hoàng, Quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam

Hoa Kỳ: 9869 Coronado Lake Drive, Boynton Beach City, Florida 33437, USA

Rất mong được hợp tác cùng Quý khách hàng!

Bài viết liên quan

089 661 6767