Nợ riêng và nguyên tắc giải quyết nợ riêng trong thời kỳ hôn nhân

Nợ riêng trong thời kỳ hôn nhân là một trong những vấn đề đáng được các cặp vợ chồng quan tâm khi họ có xu hướng muốn chấm quan hệ hôn nhân. Việc xác định nợ riêng và nguyên tắc giải quyết nợ riêng trong thời kỳ hôn nhân đã được pháp luật về hôn nhân và gia đình quy định rõ ràng. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, Công ty Luật Quốc tế DSP sẽ cung cấp cho Quý bạn đọc những thông tin hữu ích thông qua bài viết dưới đây.

1. Quan hệ hôn nhân là gì?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thìHôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.

Theo đó, để quan hệ hôn nhân được xác lập hợp pháp thì vợ chồng khi chung sống với nhau phải đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để phân chia tài sản chung, nợ chung, tài sản riêng, nợ riêng trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng.

Tư vấn pháp luật về Hôn nhân và gia đình, gọi 089 661 7728

2. Nợ riêng trong thời kỳ hôn nhân là gì?

Theo quy định tại Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;

2. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.”

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không quy định khái niệm nợ riêng trong thời kỳ hôn nhân là gì, nhưng có quy định nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng, đây được xem là cơ sở để xác định các khoản nợ riêng trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng.

Do đó, nợ riêng có thể được hiểu là những khoản tiền phát sinh từ việc vay mượn hay nghĩa vụ vật chất đối với người thứ ba, mà khoản nợ này có trước thời kỳ hôn nhân hoặc những khoản phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ một số trường hợp luật định hoặc phát sinh từ những giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không sử dụng vào mục đích phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình trong thời kỳ hôn nhân hoặc phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của một bên.

Theo quy định tại khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình”.

Như vậy, không phải bất kỳ khoản nợ nào trong thời kỳ hôn nhân cũng được xác định là nợ riêng, mà nợ riêng trong thời kỳ hôn nhân được xác định khi một trong hai vợ chồng tự ý xác lập các giao dịch một cách độc lập, riêng lẻ, không cùng nhau và không phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình.

Theo quy định tại Điều 6 và khoản 5 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đương sự có quyền và nghĩa vụ “Cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

Do đó, vợ chồng để chứng minh được các khoản nợ riêng thì phải cung cấp được các chứng cứ để chứng minh 02 yếu tố, như sau:

– Một là, các tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc xác lập giao dịch này sử dụng cho mục đích cá nhân, không thể hiện ý chí thống nhất của cả vợ và chồng, như: Hợp đồng vay mượn chỉ có một chữ ký của vợ hoặc chồng; Bản án/Quyết định của Toà án hoặc văn bản thoả thuận của các bên về việc thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ ba do hành vi vi phạm pháp luật của mình gây ra;…

– Hai là, chứng cứ chứng minh việc sử dụng khoản nợ không đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, như: Sử dụng khoản vay mượn dùng để đánh bài, cá độ, hoặc thực hiện nghĩa vụ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng,…

Như vậy, vợ hoặc chồng phải có đầy đủ chứng cứ, chứng minh 02 yếu tố được phân tích nêu trên để xác định khoản nợ riêng trong thời kỳ hôn nhân và không phải liên đới chịu trách nhiệm đối với khoản nợ riêng này.

>> Xem thêm: Nợ chung và nguyên tắc giải quyết nợ chung trong thời kỳ hôn nhân

Đơn cử như tình huống dưới đây:

Vợ chồng A, B đã đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã X cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01/03/2020. Trong quá trình chung sống, chồng B đã đổ đốn hư hỏng, rượu chè, cờ bạc thâu đêm, suốt sáng, trong thời gian vợ A đang mang thai, chồng B đã bỏ bê và không chăm sóc. Chồng B đã vay nóng số tiền của xã hội đen để chơi đánh bạc, dẫn đến vỡ nợ. Vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, đánh đập, nên cuộc sống hôn nhân không được hạnh phúc. Khi ly hôn, chồng B yêu cầu vợ A cùng có trách nhiệm để trả khoản nợ này là không có cơ sở:

Khoản nợ nêu trên căn cứ vào quy định pháp luật hôn nhân gia đình năm 2014, được xác định là nợ riêng của chồng B, nên vợ A không phải có nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm đối với khoản nợ này, vì:

Một là, chồng B vay tiền của xã hội đen không thông qua ý kiến của vợ A, vợ A hoàn toàn không biết được khoản vay này.

Hai là, chồng B vay tiền sử dụng vào mục đích, sở thích cá nhân để đánh bạc mà không sử dụng khoản vay này để phục vụ vào việc chăm sóc, khám thai cho vợ, ăn, ở,… của gia đình.

3. Nguyên tắc giải quyết nợ riêng trong thời kỳ hôn nhân

Đối với các khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì về nguyên tắc cả vợ và chồng đều có nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, đối với khoản nợ riêng, pháp luật hôn nhân và gia đình không quy định cụ thể tại một điều khoản nào để hướng dẫn giải quyết nợ riêng trong thời kỳ hôn nhân, nhưng trên tinh thần Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có những nguyên tắc, cụ thể:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này”. 

Như vậy, khoản nợ riêng được giải quyết và tuân thủ thông qua 02 nguyên tắc sau:

Một là, về nguyên tắc chung trong thời kỳ hôn nhân, nợ riêng của ai thì người đó phải tự trả, không được sử dụng tài sản chung để trả nợ riêng. Cách xác định nợ riêng đã được trình bày tại phần trên.

Hai là, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng vẫn có thể thỏa thuận cùng nhau giải quyết khoản nợ riêng như sử dụng tài sản chung, sử dụng tài sản riêng của vợ/chồng để giải quyết khoản nợ riêng của người còn lại.

 

Tư vấn pháp luật về Hôn nhân và gia đình, gọi 089 661 7728

>> Xem thêm: Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

4. Dịch vụ tư vấn giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình của Công ty Luật Quốc tế DSP

Công ty Luật Quốc tế DSP có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn tranh chấp về hôn nhân và gia đình với đội ngũ nhân viên làm việc tận tâm và chuyên nghiệp.

Đến với Công ty Luật Quốc tế DSP, Quý khách hàng sẽ nhận được các dịch vụ uy tín – chất lượng –  nhanh chóng – hiệu quả, thông qua quy trình sau:

– Tư vấn online qua điện thoại hoặc trực tiếp tại trụ sở Công ty Luật Quốc tế DSP về nợ riêng khi Quý khách hàng thắc mắc;

– Quý khách hàng cung cấp hồ sơ, tài liệu thông qua tài khoản zalo, hoặc các phương thức khác;

– Nghiên cứu hồ sơ và thỏa thuận ký kết Hợp đồng dịch vụ pháp lý với Quý khách hàng;

– Cử Luật sư/Đại diện ủy quyền để tham gia tố tụng và các công việc khác theo yêu cầu của Quý khách hàng;

– Soạn hồ sơ khởi kiện, các văn bản liên quan đến vụ việc đang giải quyết;

– Đưa ra phương án, định hướng tốt nhất giải quyết tranh chấp cho Quý khách hàng;

– Thông báo kịp thời về tiến độ xảy ra trong quá trình giải quyết tranh chấp cho Quý khách hàng theo dõi.

5. Căn cứ pháp lý

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Trên đây là nội dung tư vấn của Công ty Luật Quốc tế DSP về cách xác định nợ riêng và nguyên tắc giải quyết nợ riêng trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng. Để hiểu rõ hơn về những quy định trên cũng như những vấn đề liên quan đến tranh chấp hôn nhân & gia đình, Quý bạn đọc vui lòng liên hệ tới Công ty Luật Quốc tế DSP để nhận được sự tư vấn và hỗ trợ kịp thời.

Mọi thông tin chi tiết, Quý khách vui lòng liên hệ với Công ty Luật Quốc tế DSP chúng tôi theo:

Điện thoại: 0236 222 55 88

Hotline: 089 661 6767 hoặc 089 661 7728

Email: info@dsplawfirm.vn

Fanpage: facebook.com/dsplawfirm.vn

Miền Trung: 87 Phạm Tứ, Quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam

Miền Nam: Tầng 2, Toà nhà GP Bank, 83 Đinh Tiên Hoàng, Quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam

Hoa Kỳ: 9869 Coronado Lake Drive, Boynton Beach City, Florida 33437, USA

Rất mong được hợp tác cùng Quý Khách!

Bài viết liên quan

089 661 6767