Tổ chức đánh bạc là gì? Mức xử phạt đối với hành vi tổ chức đánh bạc

Hiện nay, “tổ chức đánh bạc” là loại tệ nạn xã hội khá phổ biến và diễn ra hầu hết ở các địa phương với quy mô lớn về số người cũng như số tiền đánh bạc của các đối tượng tham gia tổ chức đánh bạc. Do đó vấn đề về tổ chức đánh bạc rất được nhiều người quan tâm. Trong bài viết này, Công ty Luật Quốc tế DSP gửi đến bạn đọc quy định của pháp luật về “Tổ chức đánh bạc là gì? Mức xử phạt đối với tội tổ chức đánh bạc”.

Tổ chức đánh bac là gì? Mức xử phạt đối với hành vi tổ chức đánh bạc? – Hình minh họa

1. Thế nào là tổ chức đánh bạc?

Đánh bạc là hành vi tham gia vào trò chơi được tổ chức bất hợp pháp mà sự được (hoặc thua) kèm theo việc được (hoặc mất) lợi ích vật chất đáng kể (tiền, hiện vật hoặc các hình thức tài sản khác).

Tổ chức đánh bạc là hành vi chỉ huy, phân công, điều hành sự kiện, sự việc để những người khác dùng tiền, hiện vật có giá trị tham gia vào sự kiện, sự việc mà họ có thể được thua bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị khi không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép (không được cấp phép hoặc không đúng với nội dung đã được cấp phép)

2. Các yếu tố cấu thành tội tổ chức đánh bạc

2.1. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội tổ chức đánh bạc là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.

2.2. Khách thể của tội phạm

Tội xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội mà trực tiếp xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, vì cờ bạc nói chung và tổ chức nói riêng cũng là một tệ nạn của xã hội.

2.3. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội tổ chức đánh bạc thực hiện hành vi của mình là do cố ý, tức là nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện.

2.4. Mặt khách quan của tội phạm

Căn cứ khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì hành vi khách quan của tội này thể hiện qua 1 trong những dạng hành vi dưới đây:

– Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

– Sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

– Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;

– Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;

– Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

3. Mức xử phạt đối với tội tổ chức đánh bạc 

Mức xử phạt đối với tội tổ chức đánh bạc – Hình minh họa

3.1. Hình phạt chính

Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

Căn cứ khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định đối với người nào tổ chức đánh bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

– Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

– Sử dụng địa điểm thuộc quyền Sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

– Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;

– Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;

– Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 hoặc hành vi quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 hoặc đã bị kết án về tội tổ chức đánh bạc hoặc tội quy định tại Điều Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm

Căn cứ khoản 2 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định phạm tội tổ chức đánh bạc thuộc một trong những trường hợp dưới đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm :

– Có tính chất chuyên nghiệp;

– Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên;

– Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương, tiện điện tử để phạm tội;

– Tái phạm nguy hiểm.

3.2. Hình phạt bổ sung

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Căn cứ khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

>> Xem thêm:  Tổ chức đánh bạc cho 10 người mà số tiền, hiện vật thu được dưới 5 triệu đồng có bị xử lý hình sự không?

4. Những vấn đề liên quan

– Theo Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/04/2019 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự như sau:

Về hình sự

Khi xem xét, áp dụng tình tiết định khung “sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự ngoài việc chứng minh, làm rõ các bị cáo sử dụng trang mạng đánh bạc trực tuyến không được phép hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội Việt Nam để đánh bạc thì có phải chứng minh các bị cáo nhận, trả tiền thắng, thua bạc qua tài khoản mạng hay không?

Khi xem xét, áp dụng tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự thì chỉ cần chứng minh các bị cáo sử dụng trang mạng đánh bạc trực tuyến không được phép hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội Việt Nam để đánh bạc là đã đủ điều kiện để áp dụng tình tiết định khung tăng nặng này. Việc chứng minh các bị cáo nhận, trả tiền thắng, thua bạc bằng phương thức nào chỉ nhằm làm sáng tỏ các tình tiết khác của vụ án.

– Theo công văn số 196/TANDTC-PC ngày 04/9/2018 về việc áp dụng điểm c khoản 2 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự được hiểu là việc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để đánh bạc trực tuyến (như hình thành nên các chiếu bạc online hoặc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để tổ chức đánh bạc, gá bạc).

Việc người phạm tội sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử khác như là phương tiện để liên lạc với nhau (ví dụ: nhắn tin qua điện thoại, qua email, zalo, viber…. để ghi số đề, lô tô, cá độ đua ngựa…) mà không hình thành nên các trò chơi được thua bằng tiền hoặc hiện vật trực tuyến thì không thuộc trường hợp “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để phạm tội” quy định điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

>>Xem thêm: Về việc áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội

5. Căn cứ pháp lý

– Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

– Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 04/9/2018 của Tòa án Nhân dân tối cao về việc áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của BLHS.

– Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/04/2019 của Tòa án Nhân dân tối cao vè việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính.

Trên đây là bài viết của Công ty Luật Quốc tế DSP. Nếu còn những vướng mắc, bạn đọc vui lòng trao đổi trực tiếp với chúng tôi qua Hotline: 089.661.6767 / 089.661.7728 hoặc gửi về Email : mientrung@dsplawfirm.vn để nhận được sự tư vấn và hỗ trợ kịp thời.

Mọi thông tin chi tiết, Quý khách vui lòng liên hệ với Công ty Luật Quốc tế DSP chúng tôi theo:

Điện thoại: 0236 222 55 88

Hotline: 089 661 6767 hoặc  089 661 7728

Email: info@dsplawfirm.vn

Fanpage: facebook.com/dsplawfirm.vn

Miền Trung: 87 Phạm Tứ, Quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam 

Miền Nam: Tầng 2, Toà nhà GP Bank, 83 Đinh Tiên Hoàng, Quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam 

Hoa Kỳ: 9869 Coronado Lake Drive, Boynton Beach City, Florida 33437, USA

Rất mong được hợp tác cùng Quý Khách!

Bài viết liên quan

089 661 6767