Gá bạc là gì? Dấu hiệu và mức xử phạt hành vi gá bạc?

Hiện nay, các đối tượng phạm tội gá bạc đang có chiều hướng gia tăng gây hậu quả nghiêm trọng cho trật tự, an toàn của xã hội. Có thể thấy rằng, nhiều người nhận thức rõ hành vi gá bạc là phạm pháp nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi để trục lợi, thu tiền bất chính. Để ngăn chặn, răn đe tội phạm này, pháp luật hiện hành đã có các quy định, chế tài xử phạt rất nghiêm khắc. Dưới đây là bài phân tích của Công ty Luật Quốc tế DSP về gá bạc, dấu hiệu pháp lý và mức xử phạt hành vi gá bạc.

1. Gá bạc là gì?

Gá bạc là gì?

Gá bạc là hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để người khác dùng tiền, hiện vật có giá trị tham gia vào sự kiện, sự việc mà họ có thể thua được bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị khi không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

2. Dấu hiệu pháp lý của tội gá bạc

Căn cứ khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định tội gá bạc như sau:

“Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tổ chức, sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên mà số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

b) Tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần có giá trị 20.000.000 đồng trở lên;

c) Tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc; phân công người canh gác, người phục vụ, sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;

d) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.”

Từ quy định của pháp luật hình sự, ta có thể thấy dấu hiệu pháp lý của tội gá bạc như sau:

2.1 Khách thể

Tội phạm xâm phạm trật tự công cộng, an toàn xã hội.

2.2 Mặt khách quan

Hành vi khách quan của tội gá bạc là hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để người khác dùng tiền, hiện vật có giá trị tham gia vào sự kiện, sự việc mà họ có thể thua được bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị khi không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

Hành vi gá bạc trái phép cấu thành tội gá bạc nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

–   Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

–   Sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

–   Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;

–   Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;

– Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Người thực hiện hành vi gá bạc mà còn thực hiện hành vi đánh bạc, thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

2.3 Mặt chủ quan

Tội phạm thực hiện với lỗi cố ý, tức là người phạm tội nhận thức được rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nhưng vẫn thực hiện.

2.4 Chủ thể

Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Mức xử phạt hành vi gá bạc

Mức xử phạt hành vi gá bạc                                                                          

Theo quy định của pháp luật hiện hành, hành vi gá bạc có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị xử lý hình sự.

3.1. Thứ nhất, xử phạt vi phạm hành chính.

Trong trường hợp việc gá bạc chưa thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể bị xử phạt hành chính đối với hành vi che giấu việc đánh bạc trái phép theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực An ninh trật tự, An toàn xã hội, Phòng, chống tệ nạn xã hội; Phòng cháy chữa cháy; Phòng, chống bạo lực gia đình:

“3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Nhận gửi tiền, cầm đồ, cho vay tại sòng bạc, nơi đánh bạc khác;

b) Che giấu việc đánh bạc trái phép.”

3.2. Thứ hai, xử lý hình sự.

Khung hình phạt tại khoản 1:

Người phạm tội bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Khung hình phạt tại khoản 2:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

– Có tính chất chuyên nghiệp.

– Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.

– Sử dụng mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội.

– Tái phạm nguy hiểm.

Hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

4. Một số vấn đề liên quan

4.1 Gác bạc có phải là tổ chức đánh bạc?

Theo quy định của pháp luật, cấu thành hai hành vi này là giống nhau và mức hình phạt cũng giống nhau. Tuy nhiên, thực tiễn các vụ án cho thấy hai hành vi này có nhiều điểm khác nhau .

Tổ chức đánh bạc là hành vi chỉ huy, phân công, điều hành sự kiện, sự việc để những người khác dùng tiền, hiện vật có giá trị tham gia vào sự kiện, sự việc mà họ có thể được thua bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị khi không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép (không được cấp phép hoặc không đúng với nội dung đã được cấp phép).

Trong khi đó, gá bạc là hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để người khác dùng tiền, hiện vật có giá trị tham gia vào sự kiện, sự việc mà họ có thể thua được bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị khi không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

Trường hợp những người tham gia đánh bạc sau khi bàn bạc thống nhất về hành vi đánh bạc, cách thức đánh bạc và sau đó xin người quản lý, sử dụng địa điểm đó đánh bạc thì  người quản lý, sử dụng địa điểm phạm tội gá bạc. Việc xác định ý thức của người quản lý, sử dụng địa điểm hình thành trước hay sau khi có hành vi đánh bạc là một trong những căn cứ quan trọng để xem xét người đó phạm tội tổ chức đánh bạc hay phạm tội gá bạc.

Ví dụ: Ngày 20/11/2020 tại quán ăn M do Nguyễn Văn A là chủ sở hữu có 3 nhóm đánh bạc, theo lời khai của các nhóm này thì sau khi bàn bạc xong về hình thức đánh bạc thì các nhóm này xin phép chủ quán M đánh bạc tại quán và được Nguyễn Văn A đồng ý, A đi mua bài và phục vụ nước, thuốc cho 3 nhóm đánh bạc, các nhóm này thỏa thuận nếu ai thắng thì bỏ ra 20.000 đồng mỗi ván trích ra trả tiền nước cho A, ba nhóm trích ra được số tiền 2.500.000 đồng. Sau đó Công an phát hiện bắt giữ thu tổng số tiền 3 nhóm là 18.000.000 đồng. Trong tình huống này, các đối tượng đánh bạc hình thành ý tưởng đánh bạc trước sau đó mới xin phép A đánh bạc tại quán, ý thức của Nguyễn Văn A hoàn toàn bị động và không xuất hiện ý tưởng đánh bạc. Do đó, Nguyễn Văn A phạm tội gá bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

5. Căn cứ pháp lý 

– Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

– Nghị định số 167/2013/NĐ-CP Quy định sử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

Trên đây là bài viết của Công ty Luật Quốc tế DSP. Nếu còn những vướng mắc, bạn đọc vui lòng trao đổi trực tiếp với chúng tôi qua Hotline: 089.661.6767 / 089.661.7728 hoặc gửi về Email : mientrung@dsplawfirm.vn để nhận được sự tư vấn và hỗ trợ kịp thời.

 

Bài viết liên quan

089 661 6767